Nghệ thuật cung đình

Nghệ nhân Trương Khiếm: Day dứt một nốt trầm
Ngày 6/6/2013-15:49 GMT+7
Nghệ nhân Trương Khiếm
Từ sau khi nghệ nhân Nhã nhạc Trần Kích từ giã cõi đời, hằng năm đến ngày giỗ tổ của Hội Ca nhạc truyền thống Huế (16/3 âm lịch) được tổ chức tại nhà thờ Cổ nhạc thuộc phường Thuận Hòa, nghệ nhân Trương Khiếm là người thay nghệ nhân Trần Kích làm chủ lễ tế (chánh bái). Đây như là một sự công nhận của đồng nghiệp đối với uy tín và trình độ nghề nghiệp của ông.

 Đã 10 năm Nhã nhạc được UNESCO công nhận là di sản thế giới, cũng chừng đó thời gian chúng ta tìm về với những người nghệ nhân và hậu thế của họ đã suốt một đời gìn giữ những giá trị di sản của tiền nhân. Có những nghệ nhân chúng ta biết để tôn vinh, nhưng bên cạnh đó cũng có những nghệ nhân chỉ lặng im để cùng vui chung với niềm vui của bạn nghề. Bởi họ biết, từ đây cuộc đời “làm nhạc” của những người như họ đã được xã hội coi trọng bằng một tình yêu đích thực khi họ tham gia biểu diễn trong các dịp tế lễ, hội hè, liên hoan… ở những nơi họ đang sống và những nơi họ sẽ đi qua. Nỗi niềm này tôi đã bắt gặp trong ánh mắt mờ đục của nghệ nhân Trương Khiếm – người cùng thế hệ với cố nghệ nhân Trần Kích, cố nghệ nhân Nguyễn Kế, nghệ nhân Lữ Hữu Thi… Gia đình ông đã có bốn đời dành tình yêu cho Nhã nhạc cung đình Huế.

Giữ hồn cho các nghi lễ

Từ khi bắt tay vào thực hiện hồ sơ khoa học “bài bản Nhã nhạc Cung Ai” – một bài bản đang bị mai một sau khi cố nghệ nhân Trần Kích về với cát bụi, chúng tôi tìm gặp nghệ nhân Trần Thảo (con trai của cố nghệ nhân Nhã nhạc Trần Kích) thì được biết, bài bản Nhã nhạc Cung Ai hiện vẫn còn được lưu giữ bởi nghệ nhân Trương Khiếm. Ông là người nắm bắt khá vững cách thức trình diễn bài bản này. Và theo sự giới thiệu của nghệ nhân Trần Thảo, chúng tôi tìm về miền biển Thuận An thuộc huyện Phú Vang để gặp nghệ nhân Trương Khiếm.

Nghệ nhân Trương Khiếm quê quán ở xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi những con người suốt cuộc đời bôn ba với biển cả. Không sinh kế trong vị mặn của biển giống như những gia đình khác, gia đình ông sống dựa vào tiếng đàn, tiếng sáo của người bố khi làng, xã có tổ chức các nghi lễ thờ cúng, ma chay… Ông kể, ngày ấy gia đình ông nghèo lắm, mới lọt lòng mẹ ông đã nghe mãi âm thanh ọ í e từ người bố, ông cũng không biết bố mình học nhạc từ ai, chỉ nghe kể rằng, bố ông là truyền nhân của một ca công xuất thân trong chốn cung đình triều Nguyễn. Nghe thì nghe vậy thôi chứ ông chẳng quan tâm, nhưng ông đâu ngờ những tiếng đàn tam, tỳ, nhị, nguyệt… của người bố từ lâu đã chảy trong huyết quản của ông, và như một quy luật tự nhiên, 15 tuổi ông theo bố học nhạc và hành nghề.

Nhờ có năng khiếu bẩm sinh, ông học đâu nhớ đấy, dần dần tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn của ông ngày một vang xa. Chính vì vậy, ở nơi đâu có trai đàn chẩn tế, có ma chay, có tế làng,… là họ mời ông cho bằng được. Đặc biệt, dù chỉ là một nhạc công nhưng ông có thể nhớ tất cả cách tiến hành các nghi lễ, thuộc tất cả các bài kinh, kệ, giai điệu tụng niệm. Ông bảo, người nhạc công trong các dịp trai đàn chẩn tế muốn réo rắt tiếng đàn để không lạc nhịp thì phải thuộc kinh kệ và nghi lễ của nhà chùa.

Bản Cung Ai bên bờ biển vắng

Đã lâu lắm rồi, nghệ nhân Trương Khiếm không còn tham gia các nghi lễ nữa, nhưng ông đã đào tạo được năm người con trai của mình theo nghiệp tổ và cũng như một sự sắp đặt, cháu nội đích tôn của ông là một trong 20 em nhạc công Nhã nhạc được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tuyển chọn và đào tạo theo Công ước quốc tế về Bảo tồn Di sản Văn hóa Phi vật thể (gọi tắt là Công ước 2003) mà Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn.

Ngày chúng tôi về miền biển Thuận An để gặp ông, ông vui lắm, bởi cũng đã lâu lắm rồi mới có người ngồi nghe ông trình tấu tất cả những nhạc cụ. Khi chúng tôi hỏi đến cái kèn bầu và bản Nhã nhạc Cung Ai, mắt ông trầm ngâm: “Bản Nhã nhạc ni buồn lắm, đó là tiếng khóc trong tang lễ của người con đối với bậc sinh thành, là tiếng nấc nghẹn ngào trong phút biệt ly, là nổi buồn sâu thăm thẳm trong các nghi lễ hiếu hỷ của chốn cung đình và dân gian…”. Tuy nhiên, người nhạc công muốn học được bài bản này phải là người có bàn tay thon, ngón tay dài. Theo lý giải của ông, cây kèn bầu – nhạc cụ dùng để thổi bản Cung Ai dài và to gấp nhiều lần cây kèn bình thường nên khoảng cách các lỗ nhạc tương ứng cũng xa hơn và nếu không có bàn tay thon với những ngón tay dài thì không thể thực hiện được bài bản này.

Đã hơn 87 tuổi, và nhiều đêm nhớ nghề quá, ông lại tìm đến với cây đàn, cây kèn rồi tự mình réo rắt cho mình nghe. Người dân sống nơi đây đã quen với chuyện “nhớ nghề” của ông Khiếm ọ í! Và cũng nhiều đêm như vậy, bài bản Nhã nhạc Cung Ai được ông tấu lên trong nhịp buồn rì rầm của sóng biển Thuận An.

 

Báo Thừa Thiên Huế
 
 
 

Sự kiện sắp đến

 
 
 

Bản đồ du lịch huế